Xoay quanh Việt Nam: Định hướng lại chuỗi cung ứng của Mỹ

Xoay quanh Việt Nam: Định hướng lại chuỗi cung ứng của Mỹ

Xoay quanh Việt Nam: Định hướng lại chuỗi cung ứng của Mỹ

Nhận thức chung về Việt Nam như một trung tâm sản xuất kỹ năng thấp che dấu một bước nhảy vọt trong chuỗi giá trị trong thập kỷ qua.

Một thỏa thuận thương mại có thể đã đạt được giữa Hoa KỳTrung Quốc với hiệp định thương mại Giai đoạn 1 gần đây, mặc dù sự sụp đổ cơ cấu từ cuộc chiến thương mại sẽ thúc đẩy sự cân nhắc lại đáng kể về sản xuất thương mại và chiến lược tiếp cận thị trường trong nhiều năm.

Căng thẳng kinh tế và sự bùng phát nhanh chóng của dịch coronavirus đã cho thấy sự mong manh của việc trở nên quá phụ thuộc vào bất kỳ nguồn cung ứng nào. Củng cố nhu cầu phát triển chuỗi cung ứng đa dạng như một phương tiện vận hành hiệu quả và khả năng phục hồi. Kể từ khi thuế quan Mục 301 đối với Trung Quốc được áp đặt vào tháng 7 năm 2018, đã có sự thay đổi nguồn cung đáng chú ý đối với Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.

Dữ liệu thương mại cả năm mới được công bố từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ cho thấy nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam tăng 35,6% vào năm ngoái, cao hơn so với mức giảm 16,2% của hàng hóa từ Trung Quốc. Một viễn cảnh tương ứng cho thấy Việt Nam đã trở nên phụ thuộc đáng kể vào Hoa Kỳ khi là thị trường xuất khẩu hàng đầu của nước này, chiếm 23,2% xuất khẩu hàng hóa trong năm 2019, từ tỷ lệ 19,5% của năm trước.

Các nhà hoạch định chính sách công của Mỹ nên có cách tiếp cận tích cực hơn trong việc định hình các mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam sẽ thúc đẩy đa dạng hóa chuỗi cung ứng, tiếp cận mở tới các thị trường đầy hứa hẹn và thúc đẩy sự ổn định trong một khu vực quan trọng về chiến lược địa chính trị.

Nhận thức chung về Việt Nam như một trung tâm sản xuất kỹ năng thấp che dấu chuỗi giá trị tăng vọt trong thập kỷ qua: máy tính và thiết bị điện thoại hiện chiếm một phần lớn trong xuất khẩu hàng hóa. Điều này là nhờ một phần lớn vào khoản đầu tư trị giá 17 tỷ đô la của Samsung Electronics vào tám nhà máy và một trung tâm R & D kể từ năm 2008, chiếm chưa đến một phần tư tổng xuất khẩu của Việt Nam và khoảng một phần ba tổng sản lượng của công ty.

Dân số trẻ và mở rộng khoảng 100 triệu người Việt Nam biểu thị cơ hội lớn cho các doanh nghiệp định hướng dịch vụ và tiêu dùng. GDP danh nghĩa bình quân đầu người tính theo ngang giá sức mua ở mức $ 7,720, thấp hơn khoảng hai lần rưỡi so với Trung Quốc đại lục, và gần ngang với vị trí của Trung Quốc năm 2006 khi điều chỉnh theo lạm phát. Mặc dù với xuất phát điểm thấp, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập tuyệt đối của Việt Nam đã đặt Quốc gia này trở thành một trong số những nhà quốc gia đứng đầu Thế Giới về chỉ số này.

Cam kết sâu sắc với Việt Nam cũng sẽ đóng vai trò là một chiến lược có giá trị trong việc đẩy mạnh cấu trúc liên minh của Mỹ với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), một khối 10 quốc gia đại diện cho 650 triệu người, dường như được coi là một trong những khu vực thương mại ưu việt của thế giới.

Từ góc độ chính sách thương mại, Hoa Kỳ nên tìm cách xây dựng mối quan hệ hợp tác 25 năm với Việt Nam như một đối tác chiến lư

chiến lược có giá trị. Mối quan hệ ngoại giao và an ninh song phương được cho là phát triển hơn so với trong lĩnh vực thương mại, với một hồ sơ về mối quan tâm và hợp tác chung trong việc bảo vệ các quyền hàng hải ở Biển Đông và thúc đẩy hòa bình trên bán đảo Triều Tiên.

Trong khi chính quyền Trump có thể mong muốn sản xuất sẽ được chia sẻ lại cho Hoa Kỳ hoặc rộng hơn là khu vực thương mại Hiệp định Hoa Kỳ-Mexico-Canada (USMCA) và điều này dường như đang xảy ra trong một số trường hợp nhất định, thực tế là nhiều ngành công nghiệp đòi hỏi phải tiếp cận lực lượng lao động lớn, giá rẻ và linh hoạt để cạnh tranh quốc tế. Trong bối cảnh này, Việt Nam và các quốc gia khác ở Đông Nam Á nên được coi là đồng minh có giá trị và là một hàng rào chiến lược thực dụng.

Sức mạnh gần đây của thương mại Việt Nam Hoa Kỳ che đậy các khuôn khổ đã lỗi thời, cụ thể là Hiệp định thương mại song phương (BTA) tháng 12 năm 2001 và Hiệp định khung thương mại và đầu tư tháng 6 năm 2007 (TIFA), bản cập nhật sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho cả hai bên.

Trong khi một hiệp định thương mại tự do (FTA) có thể nằm ngoài câu hỏi với chính trị năm bầu cử, vẫn còn chỗ cho một khuôn khổ thương mại sửa đổi sẽ giúp giải quyết các tranh chấp đang diễn ra đồng thời cho phép các công ty Mỹ đóng cửa thương mại song phương mở rộng thâm hụt với xuất khẩu nông nghiệp, LNG mở rộng, và một loạt các dịch vụ khác nhau từ khách sạn, ngân hàng, hậu cần, giáo dục và công nghệ thông tin.

Hoa Kỳ chỉ là nền kinh tế lớn duy nhất mà Việt Nam không chia sẻ Hiệp định thương mại tự do. Một thỏa thuận chính thức sẽ đại diện cho một thành quả đáng tự hào cho Việt Nam. Mặc dù có vẻ như các yếu tố cần đã hội tụ đầy đủ để đạt được thỏa thuận, hai thị trường vẫn tách biệt kể từ khi Hoa Kỳ tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bị chấm dứt.

Từ quan điểm của Hoa Kỳ, các rào cản lớn trên con đường tiến đến sự đồng thuận xoay quanh quyền bảo vệ sở hữu trí tuệ và bảo vệ các nhà đầu tư, yêu cầu nội địa hóa dữ liệu, quyền của người lao động, tiêu chuẩn y tế đối với thực phẩm và nông nghiệp, mở ra các rào cản đối với các dịch vụ tài chính, hạn chế sử dụng các hàng rào phi thuế quan theo quy định và các cơ chế thực thi.

Đối với Việt Nam, việc được Hoa Kỳ công nhận là nền kinh tế thị trường, trái ngược với nền kinh tế phi thị trường, sẽ mang lại cả lợi ích kinh tế và uy tín, cung cấp một số biện pháp bảo vệ trong các trường hợp liên quan đến thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng. Rào cản giảm sẽ làm cho hàng hóa cạnh tranh hơn và cải thiện triển vọng việc làm cho một dân số đang phát triển.

Tuy nhiên, những cơ hội chung sẽ không tự xuất hiện. Cơ sở chiến lược để các nhà hoạch định chính sách công của Mỹ hành động với sự cấp bách hơn sẽ giúp đảm bảo an ninh chuỗi cung ứng, tạo điều kiện mở cửa thương mại và thúc đẩy lợi ích quốc gia ở Đông Nam Á. Một sự khởi đầu muộn sẽ không ngăn cản một kết quả tích cực.

Theo IndustryWeek